English

Hôm nay,
Viện Môi trường và Phát triển Bền vững với truyền thống, năng lực trong nghiên cứu –triển khai KHCN môi trường sẵn sàng nhận thực hiện các dự án, đề tài về ĐTM, ĐMC, quan trắc môi trường, quy hoạch BVMT, kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn đa dạng sinh học, tác động biến đổi khí hậu, nghiên cứu về phát triển bền vững, xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật về BVMT, PTBV cho các tỉnh, thành phố, bộ, ngành, công ty trong nước và tổ chức, công ty quốc tế với chất lượng cao, tiến độ đúng.

VIỆT NAM CÓ TRÁNH ĐƯỢC LỜI NGUYỀN TÀI NGUYÊN? (THEO SAIGONTIEPTHI) 7.12.2010

SGTT - Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản đến mức nào? Về việc này có lẽ nên nhắc lại một phát biểu dựa trên khoa học địa chất và ý tưởng thống kê của A. P. Aleksandrov, nguyên chủ tịch viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, theo đó trữ lượng khoáng sản của một nước nói chung tỷ lệ thuận với diện tích của nước ấy.

Chả thế mà Nga, Trung Quốc, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Australia, Brazil... luôn dẫn đầu thế giới về sản lượng hầu hết các loại khoáng sản. Nước ta đất chật người đông, cho dù thượng đế có ưu ái cũng không thể hoá phép để biến một nước có diện tích thứ 65 trên thế giới (dân số thứ 13) trở thành cường quốc về tài nguyên thiên nhiên. Gần đây, bauxite Tây Nguyên và cát đen chứa titan dọc theo ven biển miền Trung được xem như một lợi thế tài nguyên lớn của đất nước. Song nhiều chuyên gia địa chất lâu năm lại tỏ ra dè dặt về những con số trữ lượng dường như được thổi phồng, thậm chí họ còn nhắc nhở thêm: cái mà thế giới cần, ta không có, còn cái ta có, thế giới lại không cần, hoặc họ có nhiều hơn.

Trên thực tế, hai mặt hàng khoáng sản lớn nhất của Việt Nam là dầu và than đá, dầu mỏ đứng thứ 36 trên thế giới (hơn 300 ngàn thùng/ngày), than đá thứ 17 (41 triệu tấn). Xem ra, chúng ta không nằm ngoài quy luật thống kê vừa nói trên. Năm 2008, xuất khẩu khoáng sản của ta chỉ chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó 80% là dầu thô, 10% than đá, và các khoáng sản khác chỉ chiếm 10%.

Có tài nguyên dồi dào mới chỉ là tiền đề, xử lý chúng thế nào mới là chuyện quyết định. Liệu việc đào bới cát đen trong mấy chục năm qua đã sinh lợi cho ai, và nguồn lợi mà Chính phủ thu được có thấm thía gì nếu muốn khôi phục lại vùng ven biển miền Trung đã bị tàn phá hay không?

Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng bauxite do TKV trình và được Chính phủ phê duyệt tháng 11.2007, đã toát lên một tinh thần khẩn trương, chạy đua với thời gian để năm 2015 đạt 6 – 8,5 triệu tấn alumina, và tăng tốc mạnh hơn nữa đến 15 triệu tấn vào năm 2025. Ngay đến Trung Quốc, nước hàng đầu thế giới cả về alumina lẫn aluminium (nhôm), với tập đoàn Chalco hùng mạnh, khai thác khoáng sản khắp nơi trên thế giới, cũng chỉ sản xuất hơn 8 triệu tấn alumina hàng năm. Trớ trêu hơn, toàn bộ sản lượng khổng lồ ấy của ta lại phải xuất sang Trung Quốc, nước vừa cung cấp công nghệ vừa bao tiêu sản phẩm cho hai nhà máy đầu tiên, Tân Rai và Nhân Cơ, và chắc chắn sẽ tiếp tục làm như thế cho các nhà máy sau. Trong khi đề xuất một kế hoạch quá mạo hiểm như vậy, lại không hề nói rõ bao giờ ta mới nội địa hoá và làm chủ được công nghệ chế biến alumina, một công nghệ quá cổ điển, đã có từ cuối thế kỷ 19.

Chúng ta đã có quá nhiều bài học thất bại về làm chủ công nghệ. Sau hàng chục năm xây dựng công nghiệp ôtô, mức độ nội địa hoá chỉ quanh quẩn 4 – 5%. Với 100 đôla xuất được từ hàng may mặc ta phải nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu đến 80 đôla ngay từ các nước láng giềng. Năm nay Việt Nam mới bắt đầu có sản phẩm lọc dầu nội địa, chậm hơn Thái Lan và Malaysia đến vài chục năm. Song có nhà máy lọc dầu không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ hoá dầu. Tình trạng chậm tiến độ do trục trặc kỹ thuật tại nhà máy Dung Quất gần đây cho thấy làm chủ công nghệ, ngay chỉ ở mức độ vận hành suôn sẻ những công nghệ nhập từ nước ngoài, vẫn còn lắm gian nan.

Tại sao người Việt Nam không bước lên được quỹ đạo mà người Hàn Quốc đã ung dung trên đó từ cách đây bốn thập kỷ?

Hàng trăm đề tài được nghiệm thu xuất sắc về chế biến quặng ilmenit để tạo ra bột TiO2, zircon... , vẫn nằm trong ngăn kéo. Trong khi đó, qua chuyến khảo sát gần đây tại Bình Thuận, nơi dự kiến có lượng ilmenit và zircon đến hơn 6 triệu tấn, chúng tôi được xác nhận rằng cách có lời nhất là bán ilmenit sơ chế thô (qua khâu tuyển trọng lực) cho Trung Quốc, rồi mua lại của họ các thành phẩm chế biến tiếp theo.

Cần phải nhận dạng cho đúng tại sao chúng ta thất bại, không làm chủ được công nghệ trong rất nhiều ngành công nghiệp. Việc này sẽ giúp chúng ta đi dúng quỹ đạo công nghiệp hoá – hiện đại hoá, để không sa lầy vào cái “bẫy thu nhập trung bình”. Nhưng cho dù có những thất bại vừa qua, chúng ta không được phép hạ cái khẩu hiệu “khoa học – công nghệ là then chốt” xuống trong khi rất cần trưng nó lên để hoạch định một ngành công nghiệp hướng đến thương hiệu quốc gia dựa trên lợi thế tài nguyên thiên nhiên của mình.

***

Có tài nguyên không thể không khai thác. Nhưng không vội, không vơ vét, vì còn phải dành cho con cháu mai sau, và vì phải có đủ thời gian để học làm chủ công nghệ. Nhất quyết không bán rẻ tài nguyên cho nước ngoài. Cát đen không những chỉ chứa TiO2, monaxit, đất hiếm mà trong đó còn có zircon, từ đó làm ra hợp kim zircaloy cho vỏ thanh nhiên liệu trong nhà máy điện hạt nhân, còn có thorium, nguồn nhiên liệu tương lai có thể thay thế cho uranium đang cạn dần. Vậy tại sao phải ra sức đào bới các đụn cát xinh xắn mà thượng đế đã dày công vun đắp để chắn sóng, che gió, để từ nước mưa chắt lọc ra những mạch nước mội ngay sát bờ biển... rồi đem cát đen ấy bán vội cho nước ngoài? Như thế đâu phải là công nghiệp hoá – hiện đại hoá!

Có người phản biện: “Các nước ngày nay giàu có chính là nhờ vơ vét tài nguyên để công nghiệp hoá trong hàng trăm năm qua, có còn gì dành lại cho con cháu họ đâu?” Xin thưa, ít ra họ cũng còn truyền lại khối tri thức khoa học – công nghệ khổng lồ làm của hồi môn cho con cháu.

Phạm Duy Hiển

Các bài viết khác
Báo cáo của các tổ chức ngoài chính phủ ở Việt Nam-Johanesburg 2002- VESDI chuẩn bị
RIO+20 the future we want-Thông điệp của Thanh niên Việt Nam gửi đến RiO +20
Đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước vì đập thủy điện Trung Quốc trên thượng nguồn
Giới tài phiệt chi phối dòng nước Mekong?
Biến đổi khí hậu và những tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp
VAI TRÒ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG BVMT ở Việt Nam được coi là sự nghiệp của toàn dân. Tuy nhiên, trên thực tế việc tham gia trực tiếp
NHỮNG VIỆC CẦN LÀM VỀ THAM VẤN CỘNG ĐỒNG TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Theo quy định về TVCĐ báo cáo ĐTM tại khoản 8, điều 20, mục 2 về ĐTM của Luật BVMT năm 2005 của nước
VESDI 10 năm (1995-2005)
VESDI 20 năm thành lập
Hoạt động Viện
VESDI đội ngũ trẻ chúng tôi
Bài học của người dân Hy Lạp Cách đây 2 tháng, khi tới 1 vùng nông thôn của Đức, thì bản thân các bạn sinh viên trường Hamburg và
RIO+20 the future we want-Thông điệp của Thanh niên Việt Nam gửi đến RiO +20 Rio+20 - Hội nghị Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững diễn ra tại Rio de Janeiro, Brazil, trong thá

Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Đề tài cấp NN, Bộ  |  Đề tài cấp tỉnh, TP  |  Thư viện ảnh  |  Thư viện video  |  Địa chỉ liên hệ  |  Email
Trung tâm tư vấn chính sách và giám sát môi trường (CEPCOM)
Th.S Dương Đức Bình Giám đốc trung tâm Đ/c: Phòng 703, Nhà A15, Chung cư Công an huyện Thanh Trì, Ngõ 66, Kim Giang, Hoàng Mai, Hà Nội ĐT: 0988509968; (04)85856502; Email: cepcom.vesdi@gmail.com
CHI NHÁNH PHÍA NAM
Đại diện Ông Nguyễn Quốc Luân,
Địa chỉ: Lầu 1, tòa nhà 286/3 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, TP HCM
Điện thoại: 08 39778318
Email: nqluan@gmail.com

CHI NHÁNH BẮC TRUNG BỘ
TS. Hoàng Văn Sơn
Phó Trưởng Chi nhánh
43 Hồ Hán Thương, TP. Vinh, tỉnh Nghệ An
ĐT: (84-38) 3845810; Email:hoang.vesdi@gmail.com
CHI NHÁNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN
GS.TS. Trần An Phong
Phó Viện trưởng kiêm Trưởng Chi nhánh
B32 Chung cư 15, Hoàng Hoa Thám, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
ĐT: (84-58) 3525731; Fax: (84-58) 3525720

TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
Nguyễn Ngọc Oánh
Giám đốc trung tâm
ĐT:
0947432368
Đc:
B19 lô 9, khu ĐTM Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Địa chỉ: P113-116, Khu Ngoại Giao đoàn B17 Kim Liên, phố Lương Định Của, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội
ĐT:  (84-4) 22108786
Email: 
vesdi.office@vesdi.org.vn; Website: www.vesdi.org.vn
GS.TSKH Phạm Hoàng Hải, Viện trưởng
0913.235.611
GS.TS Lê Thạc Cán, Chủ tịch HĐKH (0944.052.855; 
lethaccan@yahoo.com)
Nguyễn Đức Tùng, Phó Viện trưởng (0913.389.860; 
tungnd25@yahoo.com)
Copyright © 2010 VESDI - Thiết kế và phát triển bởi Bambu®